trong chiến lược phát triển du lịch việt nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã đặt mục tiêu phát triển du lịch việt nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của các ngành, lĩnh vực khác và nhiều địa phương; đồng thời, tối đa hóa đóng góp của du lịch đối với nền kinh tế, tạo việc làm và nâng cao chất lượng cuộc … Ngày 5-10-2017, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Tây Ninh đã ban hành Chương trình hành động số 68-CTr/TU, xác định mục tiêu phấn đấu đến năm 2025 đưa du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng và đến năm 2030 phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Thứ nhất, tiếp tục nhất quán chủ trương phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn, gắn phát triển du lịch với bảo tồn, phát huy giá trị di sản và bản sắc văn hóa dân tộc. Phát triển du lịch theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, văn minh, chất lượng, hiệu quả. "Phép thử" cho ngành Du lịch. Thứ năm, ngày 06-02-2020, 09:37 Giám đốc Công ty cổ phần Thương mại và phát triển du lịch Nụ cười mới cho biết: "15 năm làm nghề, chưa bao giờ công ty tôi phải đối mặt với khó khăn như bây giờ. Ngay từ mùng 6 tháng Giêng, các khách hàng Thứ Hai, 21/6/2021. 1. Đặt vấn đề. Thuật ngữ " Du lịch thông minh " được ra đời dưới tác động của cuộc cách mạng công nghệ 4.0, đặc biệt là sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin - truyền thông, đã cho phép tạo ra các sản phẩm đa dạng cho ngành Du lịch.Có thể hiểu, du lịch thông minh là mô Nyxc. Contents1 Chú ý đến sự an toàn của khách du lịch tại Việt Nam2 Chuyên nghiệp hóa dịch vụ3 Tạo ra các sản phẩm du lịch độc đáo4 Cải thiện giao thông ở các thành phố lớn5 Đa dạng hóa các hình thức du lịch6 Quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới7 Thay đổi nhận thức về du lịch từ cấp quản lý nhà nước8 Bảo tồn các di tích lịch sử văn hóa9 Xây dựng hình ảnh du lịch Việt Nam10 Phát triển các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và sắc đẹp Việt Nam hiện có nhiều điều kiện để phát triển ngành du lịch hơn so với các nước trong cùng khu vực. Nhưng thực tế cho thấy ngành du lịch nước ta vẫn chưa thu hút được nhiều du khách, đặc biệt là du khách quốc tế. Vì vậy, xin đưa ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của ngành du lịch Việt Nam. Chú ý đến sự an toàn của khách du lịch tại Việt Nam Tệ nạn xã hội đã và đang là một vấn đề cần được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của các cấp chính quyền địa phương cũng như toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Đặc biệt, vấn đề này càng được nhiều người quan tâm trong việc phát triển ngành du lịch nước nhà. Nạn móc túi, cướp giật, ăn xin, lừa đảo, … đã trở thành ấn tượng xấu trong lòng du khách khi đến Việt Nam. Họ cảm thấy lo sợ và bất an khi tham quan các danh lam thắng cảnh, thưởng thức ẩm thực tại các nhà hàng và thậm chí là ở nhà nghỉ, khách sạn. Vì vậy, để Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn, chúng ta cần chú trọng đến sự an toàn của du khách bằng các biện pháp giải quyết triệt để các tệ nạn xã hội. Chuyên nghiệp hóa dịch vụ Hiện nay, số lượng dịch vụ tại bất kỳ điểm du lịch nào cũng tăng lên chóng mặt. Tuy nhiên, do chưa được đào tạo chuyên nghiệp nên chất lượng dịch vụ còn rất thấp và chưa có tính cạnh tranh. Ngành du lịch thực sự thiếu đội ngũ nhân viên giỏi chuyên môn, nghiệp vụ về giao tiếp, quản lý cũng như chất lượng dịch vụ. Vì vậy, cần tập trung nâng cao chất lượng dịch vụ để giúp Việt Nam đủ sức cạnh tranh trong lĩnh vực du lịch. Tạo ra các sản phẩm du lịch độc đáo Hầu hết các doanh nghiệp du lịch ở Việt Nam đều có quy mô vừa và nhỏ, vốn ít và chỉ tập trung khai thác các nguồn lực sẵn có hoặc “sao chép” các sản phẩm du lịch. Đây là một trong những điểm yếu khiến ngành du lịch Việt Nam chậm phát triển. Vì vậy, cần chú trọng tạo ra những sản phẩm đặc trưng, ​​nổi bật của từng vùng miền để tạo nên nét riêng tại mỗi điểm du lịch, đồng thời quảng bá hình ảnh Việt Nam đến với du khách. Cải thiện giao thông ở các thành phố lớn Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là hai cửa ngõ chính đón khách quốc tế bằng đường hàng không đến Việt Nam. Tuy nhiên, vấn đề giao thông đang là vấn đề đáng lo ngại nhất của hai thành phố này bởi cơ sở hạ tầng và đặc biệt là ý thức của người tham gia giao thông còn rất thấp. Hình ảnh tắc đường, lấn làn, vỉa hè hàng ngày đã trở thành nỗi lo của du khách khi đặt chân đến Việt Nam. Vì vậy, chúng ta cần cải thiện giao thông ở các thành phố lớn, điển hình là Hà Nội và để góp phần tạo ấn tượng tốt trong lòng du khách. Những bài có thể bạn thích Đa dạng hóa các hình thức du lịch Bắt kịp xu hướng du lịch của thế giới với nhiều thay đổi, hướng tới những giá trị mới độc đáo và nguyên sơ là một thách thức không nhỏ đối với ngành du lịch Việt Nam. Bởi để phát triển dịch vụ mà vẫn bảo tồn được các điểm du lịch tự nhiên, hướng về cội nguồn và thiên nhiên đối với Việt Nam là rất khó. Tuy nhiên, nếu không muốn đứng trước nguy cơ tụt hậu, mất thị phần trong ngành du lịch, cần đa dạng hóa các loại hình du lịch theo xu hướng của thế giới, đồng thời đảm bảo tính chuyên nghiệp, hiện đại trong dịch vụ. . Quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới Việt Nam là quốc gia có nhiều điều kiện để phát triển ngành du lịch so với các nước trong khu vực, nhưng chính chất lượng của khâu quảng bá hình ảnh lại khiến du khách quốc tế ít biết đến Việt Nam. Với việc sở hữu những di sản văn hóa và điểm đến hấp dẫn như Hạ Long, Huế, Hội An, Đà Nẵng, Nha Trang,… Việt Nam cần quan tâm hơn nữa đến chất lượng quảng bá hình ảnh của mình để tạo được tiếng vang và sức hút trong lòng du khách. của khách du lịch. Thay đổi nhận thức về du lịch từ cấp quản lý nhà nước Công tác quản lý ngành du lịch còn nhiều bất cập, kém hiệu quả, điển hình là công tác quản lý an ninh, an toàn, đảm bảo phát triển bền vững còn nhiều yếu kém, chưa bảo tồn và phát huy được giá trị của du lịch. di sản cũng như bảo vệ môi trường. Ngành du lịch Việt Nam cần tổ chức các lớp tập huấn kiến ​​thức giao tiếp, ứng xử, quản lý cho cán bộ, hướng dẫn viên và người dân nhằm phát triển ngành du lịch nước nhà. Bảo tồn các di tích lịch sử văn hóa Hiện nay, các không gian danh lam thắng cảnh, di sản văn hóa đang bị xâm hại, điển hình là việc khai thác tài nguyên thiên nhiên vì mục đích kinh tế làm mất cảnh quan, ô nhiễm môi trường, mất thiêng. của các di tích. Ngành du lịch Việt Nam cần có những biện pháp bảo tồn di tích văn hóa để vừa lưu giữ di tích cho hậu thế, vừa giới thiệu những nét văn hóa đến du khách quốc tế. Xây dựng hình ảnh du lịch Việt Nam Du lịch Việt Nam cần tăng cường xây dựng hình ảnh du lịch đối với bạn bè quốc tế bằng việc tăng cường thực hiện nếp sống văn minh, tổ chức thông tin hướng dẫn, hỗ trợ du khách tại các điểm du lịch, đặc biệt là xây dựng phong trào ứng xử văn minh với thái độ cởi mở, chân thành và nhiệt tình. hướng tới khách du lịch. Làm được điều này, du lịch Việt Nam sẽ có hình ảnh đẹp trong mắt du khách. Phát triển các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và sắc đẹp Các điểm du lịch ở Việt Nam cần tạo ra các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, sắc đẹp cũng như khu vực cấm khói thuốc, không bán hàng, trèo kéo khách, bổ sung thực đơn với các món rau, củ, món ăn tăng cường. ăn ít chất béo, tổ chức câu lạc bộ sức khỏe cho du khách. Các dịch vụ này cần được bổ sung, nâng cao nhưng cũng phải đảm bảo chất lượng dịch vụ. Sau thời gian chịu ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch Covid-19, ngành du lịch toàn cầu cuối cùng đã có dấu hiệu phục hồi, dù biến thể Omicron đang khiến nhiều quốc gia siết siết chặt các biện pháp kiểm soát biên giới. Tỷ lệ tiêm chủng tăng lên, nhu cầu bị dồn nén cũng như tiền tiết kiệm tích lũy đã thúc đẩy mạnh mẽ nhu cầu du lịch trong cả năm 2021, khi mà các biện pháp phong tỏa toàn quốc được gỡ bỏ và nhiều quốc gia nới lỏng hạn chế nhập cảnh. Dưới đây là các biểu đồ cho thấy tình hình ngành du lịch toàn cầu sau 2 năm trải qua đại dịch chưa từng có trong lịch sử. SỰ PHỤC HỒI KHÔNG ĐỒNG ĐỀU Theo một phân tích của hãng nghiên cứu và tin tức du lịch Skift, sự phục hồi của ngành du lịch diễn ra không đồng đều giữa các khu vực. Sử dụng hơn 50 chỉ số, phân tích này đã đo lường sự phục hồi du lịch tại các khu vực khác nhau so với năm 2019 – thời điểm trước khi đại dịch bùng phát. Các chỉ số này bao gồm tìm kiếm du lịch, tỷ lệ lấp đầy phòng khách sạn, doanh thu mỗi đêm phòng và tình trạng hủy phòng. “Chúng tôi phát hiện ra rằng có mối tương quan rất chặt chẽ giữa số lượng ca nhiễm Covid-19 mới và sự phục hồi du lịch”, Wouter Geerts, nhà phân tích nghiên cứu cấp cao tại Skift, cho biết. “Khi số ca nhiễm tăng lên, các quốc gia có xu hướng đóng cửa biên giới, áp dụng phong tỏa trong nước, khi đó, hoạt động du lịch ghi nhận sự suy giảm lớn và gần như ngay lập tức”. Theo ông, việc các quốc gia ở Bắc Mỹ như Mỹ, Mexico mở cửa thông thoáng hơn đã hỗ trợ lớn cho ngành du lịch của họ. Ngược lại, chiến lược “không Covid” zero Covid tại nhiều quốc gia châu Á đã gây áp lực lớn cho ngành du lịch, mãi cho tới gần đây mới có dấu hiệu giải tỏa. Trước đó, mỗi khi có ca nhiễm mới được phát hiện, nhiều quốc gia châu Á lập tức áp dụng phong tỏa và xét nghiệm trên diện rộng cùng các biện pháp phòng chống dịch nghiêm ngặt khác, nhà phân tích của Skift cho biết. Tuy nhiên, những tuần gần đây, nhiều quốc gia, bao gồm Mỹ, Canada, Anh và Singapore, đã có động thái hạn chế nhập cảnh từ các quốc gia tại miền Nam châu Phi sau khi Tổ chức Y tế Thế giới WHO gắn nhãn cho Omicron – biến thể Covid-19 được phát hiện lần đầu ở Nam Phi – là “biến thể đáng lo ngại”. Theo WHO, biến thể này hiện đã lan ra 77 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới và có thể đã có tại một số nơi khác mà chưa bị phát hiện. THIỆT HẠI CỦA CÁC HÃNG HÀNG KHÔNG Theo một báo cáo hồi tháng 10 của Hiệp hội Vận tải Hàng không Quốc tế IATA, năm 2021, các hãng hàng không sẽ nối tiếp xu hướng lỗ ròng kéo dài từ năm ngoái nhưng mức lỗ có thể giảm. IATA dự báo chỉ số khách luân chuyển RPK toàn cầu sẽ tăng trong năm nay, nhưng vẫn chỉ tương đương khoảng 40% mức trước đại dịch. RPK là một chỉ số đo lường lượng khách vận chuyển của ngành hàng không, được tính bằng cách lấy tổng số lượng khách vận chuyển có doanh thu trên các chặng bay nhân với chiều dài những chặng bay đó. Trong khi đó, hãng xếp hạng tín nhiệm Fitch Ratings đã hạ dự báo RPK toàn cầu trong năm 2021 và 2022 do lưu lượng đi lại hàng không quốc tế phục hồi chậm hơn dự kiến và các chuyến đi công tác bị hạn chế. Tổ chức này cũng cảnh báo các hãng hàng không vẫn đối mặt tương lai bất định do sự xuất hiện của biến thể Omicron. “Dù vẫn còn quá sớm để đánh giá tác động của Omicron, các làn sóng lây nhiễm mới và những phản ứng chính sách có thể dẫn tới các hạn chế đi lại và làm đình trệ hoặc tạm thời giảm hoạt động đi lại”, Fitch cho biết trong một báo cáo công bố vào tháng tháng 11. Trở lại với báo cáo của IATA, cơ quan này dự báo Bắc Mỹ sẽ là khu vực duy nhất mà các hãng hàng không ghi nhận lợi nhuận trong năm 2022. ĐẶT PHÒNG KHÁCH SẠN PHỤC HỒI CHẬM Cũng như các hãng hàng không, số lượng đơn đặt phòng của ngành khách sạn chậm phục hồi trong năm 2021. Theo dữ liệu từ Tổ chức Du lịch Thế giới của Liên hợp quốc UNWTO, sự phục hồi tại các khu vực khác nhau cũng có sự phân hóa lớn. Cụ thể, châu Âu ghi nhận sự phục hồi chậm nhất với số lượng đơn đặt phòng khách sạn từ tháng 1-10/2021 vẫn ở mức thấp hơn 70% so với cùng kỳ năm 2019. Trong khi đó, Trung Đông phục hồi mạnh mẽ nhất với lượng đơn đặt phòng trong giai đoạn này chỉ thấp hơn 13% so với cùng kỳ năm 2019. Theo ông Mike Tansey, giám đốc phụ trách mảng du lịch của hãng tư vấn Accenture, tỷ lệ tiêm vaccine cao cùng với mùa cao điểm du lịch từ châu Âu là động lực chính cho sự phục hồi du lịch của Trung Đông. Châu Âu là nguồn khách quốc tế chủ tạo của khu vực này. “Các nước Trung Đông gần như dẫn dầu thế giới về tỷ lệ tiêm vaccine ngừa Covid-19 nhờ đó khu vực này được hưởng lợi nhanh nhất từ xu hướng phục hồi du lịch”, ông Tansey nhận định với CNBC. TRIỂN VỌNG NGÀNH DU LỊCH NĂM 2022 Dù đại dịch Covid-19 vẫn chưa chấm dứt, nhiều chuyên gia du lịch tỏ ra lạc quan về sự phục hồi của ngành này. “Các chính phủ đang có những động thái rất đáng khích lệ để hồi sinh du lịch. Triển vọng năm 2022 sẽ lạc quan hơn rất nhiều”, Choo Pin Ang, Giám đốc điều hành khu vực châu Á của nền tảng du dịch trực tuyến Expedia, nhận định và dẫn ví dụ về Thái Lan, Malaysia – nơi nhiều chính sách được đưa ra để hỗ trợ phục hồi du lịch. Du khách đi qua một điểm du lịch nổi tiếng tại Milan, Italy giữa đại dịch Covid-19 - Ảnh AFP Hồi tháng 8, một khảo sát trên trang du lịch đã hỏi hơn người trưởng thành về ý định và ưu tiên du lịch của họ trong năm 2022. Theo ông Nuno Guerreiro, giám đốc khu vực châu Á Thái Bình Dương của so với cuộc khảo sát tương tự của năm ngoái, sự khác biệt lớn nhất trong kết quả khảo sát năm nay có liên quan tới làm việc từ xa. Hầu hết người được hỏi – khoảng 59% - cho biết họ sẽ lựa chọn các kỳ nghỉ ngắn ngày hơn nếu như họ có thể nghỉ làm hoàn toàn để đi nghỉ, thay vì vẫn phải làm từ xa trong kỳ nghỉ của mình. Trong khi đó, 61% cho biết sẽ đi du lịch, bất kể hình thức nào, miễn là ngân sách cho phép. Ngoài ra, 79% nói rằng du lịch sẽ trở thành một hình thức chăm sóc bản thân thiết yếu đối với họ. “Ngành du lịch vẫn chịu áp lực đáng kể khi các quốc gia phải vật lộn với các đợt bùng phát dịch hiện tại. Tuy nhiên, điểm mấu chốt là du lịch vẫn là một trong những hoạt động cơ bản trong cuộc sống của con người”, ông nhận định. Tiến trình phục hồi của du lịch Việt Nam đang lạc nhịp so với thế giới. Trong khi thế giới đã tăng 31% so với năm 2020 thì du lịch Việt đang tiếp tục rơi.’ Vì thế, vấn đề đặt ra là phải phục hồi ngay nền kinh tế xanh Việt Nam và tốc độ nhanh hơn so với các nước để không tụt hậu. Đó là khẳng định của chuyên gia cao cấp Võ Trí Thành, Nguyên Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu kinh tế Trung ương tại tọa đàm bàn tròn trong khuôn khổ Hội thảo Du lịch 2021 với chủ đề “Du lịch Việt Nam-Phục hồi và phát triển,” vừa diễn ra hôm nay ngày 25/12, tại thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An. Vậy giải pháp nào để du lịch Việt Nam không lạc nhịp’ với thế giới? Du lịch Việt đang “rơi thẳng đứng” Phát biểu tại hội thảo, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, ông Đoàn Văn Việt Khái quát bức tranh toàn cảnh ngành du lịch Việt thời gian qua Trong suốt 4 đợt bùng phát của dịch COVID-19, các hoạt động du lịch quốc tế đóng cửa hoàn toàn, khách nước ngoài chủ yếu là các chuyên gia, khách công vụ. Du lịch nội địa hoạt động phụ thuộc vào chu kỳ bùng phát dịch và hết sức cầm chừng. Năm 2021, đợt dịch thứ 4 bùng phát mạnh mẽ trên cả nước khiến các hoạt động kinh tế, xã hội đình trệ nhiều tháng. Mới đây, du lịch quốc tế bắt đầu mở cửa, khách du lịch nội địa tiếp tục giảm gần 30% so với cùng kỳ 2020. [Du lịch Việt sẽ phục hồi, phát triển trong bối cảnh mới ra sao?] Đáng nói, các quy định giãn cách phòng chống dịch, đóng cửa các điểm tham quan và dừng hầu hết các loại hình cung ứng khiến chuỗi dịch vụ đứt gãy nghiêm trọng. Năm 2020, có 338/ doanh nghiệp lữ hành quốc tế xin thu hồi giấy phép, 90% doanh nghiệp đóng cửa. Toàn cảnh hội thảo vừa diễn ra hôm nay tại Nghệ An. Ảnh TCDL Năm 2021, lượng doanh nghiệp lữ hành xin thu hồi giấy phép kinh doanh lữ hành chiếm trên 35% tổng số đã được cấp phép, phần còn lại dừng hoạt động. Lĩnh vực lưu trú chiếm 46% trong cơ cấu tổng thu của ngành du lịch Việt Nam cũng buộc phải đóng cửa khoảng 90% và hầu như không có khách, trừ các cơ sở đón khách cách ly. Hầu hết cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch, các điểm tham quan, di tích, khu vui chơi giải trí... bị thiệt hại lớn khi không có khách và đến nay vẫn chưa hoàn toàn mở cửa trở lại. Những “con số biết nói” nếu trên cho thấy du lịch Việt đang “rơi thẳng đứng” từ đỉnh cao và tiếp tục “rơi” trong năm 2021. Nguyên phó viện trưởng Viện nghiên cứu kinh tế Trung ương, ông Võ Trí Thành đặt câu hỏi với các đại biểu “Các anh, chị đau đáu, trăn trở nhất với điều gì trước vận mệnh của ngành du lịch?” Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch, ông Hà Văn Siêu cho rằng cần phải tập trung vào ba yếu tố “An toàn, mở, đồng bộ.” An toàn cho người dân, tạo niềm tin cho khách “xê dịch” trở lại. Không có gì tốt cho doanh nghiệp du lịch lúc này bằng việc mở cho doanh nghiệp hoạt động. Muốn vậy cần sự tham gia đồng bộ của ngành y tế và các ngành liên quan với du lịch. Đơn cử như hàng không phải được bay thường lệ, cửa khẩu phải mở. Ngành ngoại giao và hàng không cần liên minh với ngành du lịch. Theo ông Siêu, không nên “cách ly” mà theo dõi sức khỏe của khách và xây dựng các phương án xử lý phù hợp. Đoàn khách quốc tế đầu tiên trở lại Phú Quốc. Ảnh CTV/Vietnam+ “Du lịch chỉ phục hồi khi mang thị trường cho doanh nghiệp, mang khách đến cho điểm đến. Muốn mở phải đồng bộ. Giữa các địa phương phải mở liên thông, không thể cát cứ, nơi làm thế này, nơi làm thế kia. Giữa các bộ, ngành như y tế, giao thông, ngoại giao, công an và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phải quy định thông suốt, nhất quán,” ông Siêu nhấn mạnh. Trước câu hỏi của ông Võ Chí Thành, Chủ tịch Hội tư vấn thuế Việt Nam, bà Nguyễn Thị Cúc khẳng định thuế chính là nguồn lực để phát triển. Bà Cúc nêu ví dụ về thuế đất, Chính phủ đã có Quyết định 27 giảm tiền thuế đất trong năm 2021. “Các doanh nghiệp đang kiến nghị tiếp tục giảm đến năm 2023 và chúng tôi rất đồng thuận. Bên cạnh đó, diện tích xây dựng dành cho du lịch hiện chỉ có 25% nhưng tiền thuê đất, kể cả đất để trống lại như nhau nên chúng tôi cũng đồng tình việc cần phân định rõ đất dành cho xây dựng, đất lưu không,” bà Cúc nói. Trong khi đó, liên quan đến thuế giá trị gia tăng, bà Cúc phân tích khó khăn như vậy nhưng doanh nghiệp chỉ được giảm 2 tháng thì không phù hợp, đề nghị giảm đến hết năm 2023. Bởi thực tế, việc giảm thuế sẽ góp phần lớn vào hỗ trợ giảm giá bán, giá thành sản phẩ... Bên cạnh đó, cần hoàn thuế giá trị gia tăng cho khách quốc tế đến Việt Nam dễ dàng nhất tại điểm mua hàng đã được cơ quan chức năng cho phép. Từ đó, kích thích tiêu dùng của khách du lịch ở Việt Nam. “Hiện chúng ta đã giảm thuế thu nhập doanh nghiệp nhưng chúng tôi đề xuất đưa du lịch vào danh mục ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp để tạo cú hích cho ngành du lịch đồng thời miễn luôn thuế của phí phục vụ cho ngành du lịch. Các loại phí khác cũng nên xem xét lại cho doanh nghiệp du lịch phát triển,” bà Cúc đề xuất. Đảm bảo phòng dịch cho khách quốc tế trở lại Việt Nam. Ảnh CTV/Vietnam+ Giải pháp nào trong bối cảnh mới? Theo Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Du lịch, ông Hà Văn Siêu, cần tập trung cơ cấu lại theo xu hướng mới, doanh nghiệp tái đầu tư, chính quyền hỗ trợ cơ cấu lại. Điểm đến phải “sạch,” phải thiên nhiên, phải “khỏe” để đảm bảo an toàn, sức khỏe cho người dân; sản phẩm đa dạng, trải nghiệm sâu, không đe dọa bởi sự đại trà, đông đúc. Bên cạnh đó, cần khai thác yếu tố văn hóa trong du lịch, đầu tư cho văn hóa để kích thích du lịch. Ngoài ra, khai thác kinh tế đêm, kinh tế chia sẻ, kinh tế tuần hoàn. Đặc biệt, để du lịch Việt Nam vượt “đỉnh đáy” khó khăn, từng bước phục hồi và tiếp tục phát triển trong bối cảnh mới, Thứ trưởng Đoàn Văn Việt đề xuất một số giải pháp. Trong đó, kiến nghị Quốc hội, Chính phủ chỉ đạo tập trung thực hiện Chương trình phục hồi và phát triển du lịch trong Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội năm 2022- 2023, tạo đà cho nền kinh tế xanh phục hồi và đóng góp ngày càng hiệu quả cho sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Theo Thứ trưởng, cần tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp, lao động ngành du lịch vượt khó, giảm bớt sự tan rã hệ thống đã được củng cố từ nhiều năm nay; chỉ đạo ban hành các cơ chế, chính sách mới, tạo thuận lợi cho ngành du lịch tiếp tục phát triển hạ tầng du lịch, tạo điều kiện thuận lợi cho khách quốc tế đến Việt Nam visa, xét duyệt nhân sự nhập cảnh tại chỗ, tăng thời gian miễn thị thực...; cho phép thành lập văn phòng đại diện du lịch ở nước ngoài. Đồng tính với ý kiến của ông Hà Văn Siêu, ông Đoàn Văn Việt khẳng định cần đẩy mạnh thu hút đầu tư vào phát triển các sản phẩm du lịch ban đêm, du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng chăm sóc sức khỏe, du lịch theo hướng tăng trưởng xanh, du lịch trải nghiệm cộng đồng hướng tới phát triển bền vững...; Vinpearl Safari Phú Quốc. Ảnh CTV/Vietnam+ Ngoài ra, trong bối cảnh mới, cần đẩy mạnh chuyển đổi số và phát triển công nghệ liên quan đến du lịch nhằm tạo điều kiện nâng cao hiệu quả vận hành, quản lý, tăng cường sáng tạo các sản phẩm du lịch độc đáo, đáp ứng nhu cầu trong giai đoạn mới; thúc đẩy xu hướng du lịch hạn chế tiếp xúc thông qua tăng cường ứng dụng công nghệ, trí tuệ nhân tạo trong phục vụ du lịch; liên kết, hợp tác với các doanh nghiệp công nghệ trong sáng tạo và đưa ra các giải pháp công nghệ phục vụ du lịch an toàn; xây dựng kế hoạch phát triển nguồn nhân lực du lịch trong giai đoạn bình thường mới… Thứ trưởng cho rằng thời điểm này, khi tình hình dịch bệnh ở Việt Nam đã và đang dần được kiểm soát nhưng vẫn còn diễn biến phức tạp, khó lường, nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước đã sẵn sàng các phương án tái khởi động, phục hồi du lịch nội địa, hướng tới chính thức mở cửa hoàn toàn cho khách quốc tế dự kiến vào giữa năm 2022. “Kịch bản lạc quan về một tương lai sống chung với COVID-19 hoàn toàn có thể xảy ra và khi ấy, nhu cầu du lịch của con người chắc chắn sẽ tăng mạnh. Chính vì thế, du lịch Việt Nam sẽ nhanh chóng chớp lấy thời cơ, tận dụng mọi cơ hội để phục hồi trong bối cảnh mới, thích ứng an toàn, trở thành điểm đến uy tín và có vị thế cạnh tranh trên trường quốc tế,” Thứ trưởng Đoàn Văn Việt khẳng định. Clip du lịch Việt Nam phục hồi và phát triển Cuộc cách mạng công nghệ số đã và đang tác động mạnh mẽ đối với các ngành, lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, trong đó có du lịch. Xu thế công nghệ đang làm thay đổi các phương thức quản lý, kinh doanh và tiêu dùng du thời đại du lịch thông minh đã và đang thành hình. Đây là sản phẩm du lịch mới, bao gồm các dịch vụ trải nghiệm được tạo ra bằng việc ứng dụng các công nghệ tiên tiến cung cấp cho du khách.“Ở đâu, khi nào có sự ứng dụng những thành tựu của khoa học và công nghệ hiện đại vào du lịch thì ở đó, khi đó có du lịch thông minh”, ông Phạm Hà, Chủ tịch Lux Group nhận báo cáo Xu hướng du lịch Việt Nam 2021 do Outbox Consulting thực hiện, việc sử dụng công nghệ số trong du lịch đã được thế giới và Việt Nam thực hiện từ nhiều năm nay và được đẩy mạnh hơn bao giờ hết trong bối cảnh của đại dịch Covid-19. Trong năm 2021, công nghệ sẽ là yếu tố hàng đầu giúp du khách có lại tự tin khi đi du thức du lịch trực tuyến, khám phá các điểm đến trên thế giới bằng công nghệ thực tế ảo đã trở nên phổ biến hơn. Trong tương lai, trải nghiệm ảo có thể trở thành một tiêu chuẩn phải có đối với mỗi doanh nghiệp, giúp khách du lịch có cơ hội kết nối với hướng dẫn viên và cảm nhận trải nghiệm trước khi đặt dịch ông Hà, khách du lịch sử dụng internet, các tiện ích và thiết bị thông minh để tìm kiếm thông tin du lịch, tham khảo điểm đến, so sánh và lựa chọn các dịch vụ du lịch hợp lý, thực hiện các giao dịch mua tour, đặt phòng, mua vé máy bay, thanh toán trực tuyến… ngày càng có xu hướng gia tăng. Họ đang trực tiếp trở thành những vị “khách du lịch thông minh” – nhân tố quan trọng của du lịch thông bối cảnh đó, nhân sự trong ngành du lịch cũng không thể đi sau xu thế. Người làm du lịch phải có năng lực công nghệ, có khả năng thích ứng và “thông minh” hơn để phục vụ du khách tăng trải nghiệm và sự thoả mãn. “Covid đến, các doanh nghiệp và người lao động phải thay đổi như bàn cờ xoá đi chơi lại. Ai thích ứng nhanh sẽ trụ được. Không phải cá to nuốt cá bé, mà cá nhanh nuốt cá chậm”, Chủ tịch Lux Group đó, các công ty du lịch và người làm du lịch phải trở thành chuyên gia điểm đến, trải nghiệm phải cá nhân hoá, xây dựng niềm tin bằng kiến thức, dịch vụ 24h, check-in sớm, chọn phòng đẹp, chọn bàn ăn, làm những việc mà expedia hay không làm dụng lao động trong nghành du lịch từ cấp thấp tới cấp cao các lĩnh vực của nghành du lịch, ông Hà cho biết “Chúng tôi cho phép nhân viên làm việc theo ca, truy cập cloud và làm việc bằng phầm mềm. Một số nghề như hướng dẫn viên tuyến điểm sẽ mất đi, nhân sự như hướng dẫn viên phải chuyên sâu về kiến thức từng mảng, từng chủ đề ngoài kỹ năng và thái độ”.Nhiều vấn đề trong đào tạo nhân lựcTheo báo cáo của WEF về xếp hạng năng lực cạnh tranh ngành lữ hành và du lịch 2019, năng lực cạnh tranh Việt Nam tăng bốn bậc từ vị trí 67 năm 2017 lên 63/140 năm 2019. Song, chỉ số sức cạnh tranh về nguồn nhân lực và thị trường lao động vẫn còn thấp, xếp hạng 47/140 đạt 4,8 điểm; sụt giảm so với năm 2017, chỉ xếp trên Lào, Campuchia, Brunei trong các nước giá xếp hạng của WEF phản ánh khá chính xác hạn chế về lao động của du lịch Việt Nam trước bối cảnh công nghệ đang phát triển mạnh Phạm Hà, Chủ tịch Lux GroupTheo ông Hà, mỗi năm toàn ngành du lịch cần thêm gần lao động. Tuy nhiên, lượng sinh viên chuyên ngành ra trường chỉ khoảng người/năm, trong đó chỉ hơn 12% có trình độ cao đẳng, đại học trở lên. Ngoài khoảng cách về số lượng này, khoảng cách về kỹ năng trong lực lượng lao động du lịch hiện nay cũng lớn. Chỉ 42% người lao động được đào tạo chuyên ngành về du lịch, trong khi đó, 38% chuyển từ ngành khác sang và 20% không được đào tạo chính quy. Như vậy, nguồn cung nhân lực du lịch trên toàn quốc được xem là yếu và tịch Lux Group nhận định, còn nhiều vấn đề đối với câu chuyện nhân lực ngành du lịch hiện nay. Một là việc đào tạo còn tập trung quá nhiều vào lý thuyết mà thiếu thực hành, thực nghiệp. Hai là không đào tạo chuẩn theo năng lực như các nước. Ba là thiếu nhân sự cấp cao và nguồn nhân lực có chất lượng. Bốn là lạc hậu và thua luôn sân nhà khi nhân lực ASEAN sẽ có quyền làm việc tại Việt Nam ngoại trừ hướng dẫn viên theo thoả thuận nghề ASEAN. Năm là đầu ra của nhà trường chưa đáp ứng được đầu vào của doanh nghiệp, gây lãng phí nguồn vị doanh nhân này, nhân lực ngành du lịch cần được đào tạo và định hướng phát triển để đáp ứng yêu cầu mới với xu thế phát triển du lịch thông minh, công nghệ thực tế ảo, trí tuệ nhân tạo … trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Việc nghiên cứu để phát triển các ngành nghề và lĩnh vực mới thích ứng với du lịch thông minh thời trở nên cấp gian qua, ngành du lịch Việt Nam đã và đang chú trọng công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực, đảm bảo mục tiêu hội nhập quốc tế. Từ năm 2009, bộ trưởng du lịch các quốc gia ASEAN nhân danh Chính phủ các nước đã ký thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau. Trên cơ sở đó, giáo trình đào tạo nghề chung ASEAN cũng đã được xây dựng, liên kết chặt chẽ với khung trình độ nhiên, chính sách, cơ chế… về phối hợp giữa các chủ thể liên quan đến đào tạo, phát triển nguồn nhân lực du lịch còn chưa đầy đủ. Quy mô đào tạo chưa đủ lớn, ngành nghề đào tạo chưa đầy đủ, cơ cấu nhân lực theo ngành nghề chuyên môn chưa hợp lý, chưa đáp ứng được nhu cầu lớn trong cùng một thời điểm đối với doanh nghiệp du lịch có quy mô phân bổ cơ sở đào tạo du lịch chưa thật sự hợp lý. Tỷ lệ học sinh, sinh viên sau tốt nghiệp trở về địa phương làm việc còn thấp trong khi khu du lịch mới ở các vùng sâu, vùng xa còn thiếu nhân lực được đào tạo. Cơ chế phối hợp giữa nhà trường và doanh nghiệp vẫn chưa rõ ràng; chưa có cơ chế, chính sách cụ thể, khả thi khuyến khích các doanh nghiệp thực sự quan tâm phối hợp trong đào tạo nhân lực du độ chính sách đối với lao động ngành du lịch chưa thực sự hợp lý. Tính mùa vụ trong du lịch ảnh hưởng đến tuyển dụng, đến nhu cầu theo học lĩnh vực du lịch. Thiếu hụt nhân lực quản trị cấp caoMột vấn đề khác được ông Hà chỉ ra là du lịch Việt Nam hiện thiếu hụt nhân lực quản trị cấp cao, đặc biệt là lĩnh vực kinh doanh khách sạn, khu nghỉ dưỡng... Tại các doanh nghiệp, tập đoàn khách sạn lớn hoặc có yếu tố nước ngoài, hầu hết đội ngũ quản lý cấp trung và cấp cao đều là người nước cả nước có hơn 190 cơ sở đào tạo du lịch. Trong đó có 65 trường đại học có các khoa du lịch; 55 trường cao đăng và 71 trường trung cấp. Một số trường đại học, cao đẳng đã đầu tư xây dựng cơ sở thực hành như xưởng, khách sạn... tương đối hiện đại. Đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý đào tạo du lịch tăng về số lượng và từng bước được chuẩn thống kê của Tổng cục du lịch, toàn ngành cần lao động mỗi năm nhưng số lượng sinh viên chuyên ngành ra trường chỉ khoảng Trong đó chỉ hơn 12% có trình độ cao đẳng, đại học trở lên. Trong 1,3 triệu lao động du lịch của cả nước, chỉ có 42% được đào tạo về du lịch, 38% từ các ngành khác chuyển sang và khoảng 20% chưa qua đào tạo chính quy. Theo ông Hà, cần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch, đặc biệt có thể thích ứng trong thời đại thông qua việc đào tạo và đào tạo lại chuẩn năng lực bao gồm thái độ, kỹ năng và chuyên môn. Cần khôi phục và phát triển nhân lực du lịch đi kèm các kỹ năng đào tạo và huấn luyện cần thực hiện theo hướng đáp ứng yêu cầu thực tế của doanh nghiệp. Việc thực nghiệp nên theo tỷ lệ 50/50 giữa nhà trường và doanh nghiệp. Đồng thời, cần kết hợp mô hình ba nhà gồm nhà nước, nhà trường và nhà doanh nghiệp trong công tác đào tạo. Khuyến khích đầu tư công nghệ vào các trang thiết bị giảng dạy và thực hành tại các trường và cơ sở đào tạo nghề du lịch. “Muốn du lịch có chất lượng phải có nguồn nhân lực chất lượng cao, có năng lực, có khả năng sử dụng công nghệ và thấu hiểu khách hàng để đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp. Cần thực nghiệp tại doanh nghiệp, và liên kết ba nhà để có nguồn nhân lực có chất lượng, thực chiến và thiện chiến, đảm bảo đầu ra của nhà trường là chuẩn đầu vào của doanh nghiệp”, Chủ tịch Lux Group nói. Là đơn vị chuyên phục vụ đối tượng khách hàng sang trọng, để tạo ra những trải nghiệm chân thực và độc đáo, Lux Group đầu tư cả phần cứng và phần mềm. Phần cứng của những con tầu sang trọng của Lux Group được đầu tư rất đẹp, tinh tế và tỉ mỉ từng chi tiết, mỗi góc nhỏ là một câu chuyện. Còn phần mềm là dịch vụ và nhân sự trên du thuyền được chú trọng để tăng sự thoả mãn và đáng nhớ cho du khách. “Nhân sự trên du thuyền hiểu người chủ thực sự của họ là khách hàng, có thái độ, kiến thức và kỹ năng nâng tầm nghệ thuật. Chúng tôi sử dụng phầm mền quản lý các khâu, từ bán hàng đến vận hành để nhân viên gọi đúng tên khách, các yêu cầu nhỏ nhất được đáp ứng và làm ngạc nhiên du khách trước, trong và sau chuyến đi”, ông Hà nói. Việc đóng cửa biên giới quốc tế và tạm dừng các chuyến bay thẳng giữa Việt Nam và Australia đã ảnh hưởng tiêu cực đến các công ty khai thác du lịch của cả hai nước. Du lịch nội địa chỉ bù đắp được phần nào sự giảm sút du lịch ở cả hai nước. Thương mại Việt Nam là một thị trường du lịch đang phát triển tại Australia với ngành du lịch giải trí trị giá 231 triệu đô la Úc vào năm 2018 ở mức cao điểm. Con số này hạ xuống mức 200 triệu đô la Úc vào năm 2019, và còn giảm sâu hơn nữa bởi tác động của đại dịch vào năm 202048. Hơn công dân Việt Nam đã đến Australia trong năm 201949. Australia là một thị trường quan trọng đối với du lịch Việt Nam, bởi vì khách du lịch Australia có thời gian lưu trú tương đối dài hơn và chi tiêu cao hơn. Năm 2019, du lịch giải trí của Australia tới Việt Nam có giá trị là 1,2 tỷ đô la Úc50. Điều này cho thấy sức hút của Việt Nam trong mắt du khách Australia, đã có hơn 317,000 du khách Australia đến Việt Nam trong năm 201951. Việt Nam có hình ảnh đẹp trong mắt du khách Australia. Thu hút bởi văn hóa, ẩm thực và cảnh quan thiên nhiên, số lượng khách du lịch Australia ngày càng tang trước đại dịch COVID-19 đã thúc đẩy kế hoạch mở các đường bay thẳng, với việc hãng hàng không VietJet và Bamboo Airways công bố kế hoạch bổ sung các đường bay thẳng từ Thành phố Hồ Chí Minh tới các thành phố lớn của Australia. Đầu tư Nằm trong khu vực phát triển du lịch mạnh mẽ nhất thế giới và là thị trường hàng không quốc tế lớn nhất, Australia mang đến một môi trường an toàn và ổn định cho các nhà đầu tư du lịch. Các nhà đầu tư Việt Nam vẫn quan tâm đến cơ sở hạ tầng du lịch và ngành du lịch của Australia. Những cơ hội trong tương lai Chính phủ Việt Nam và Australia mong muốn mở lại biên giới quốc tế và nối lại du lịch quốc tế khi điều kiện an toàn cho phép. Mối liên kết mạnh mẽ giữa người dân hai nước có tiềm năng rất lớn. Ngành du lịch Việt Nam có tiềm năng tăng trưởng trong các lĩnh vực cụ thể, các lĩnh vực như du lịch sinh thái có thể tận dụng chuyên môn của Australia để có thể phát triển theo cách gìn giữ vẻ đẹp thiên nhiên đất nước đồng thời tăng cường phát triển kinh tế xã hội. Có cơ hội để tăng cường đào tạo kỹ năng dịch vụ du lịch và lữ hành nhằm đảm bảo lượng khách quay trở lại. Các nhà cung cấp giáo dục nghề của Australia có vị thế tốt để hỗ trợ đào tạo và cung cấp chứng chỉ chuyên môn cho ngành du lịch và lữ hành của Việt Nam. Ngành du lịch Ghi nhận rằng ngành du lịch quốc tế là một trong những lĩnh vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi COVID-19. Australia và Việt Nam nhận thấy ngành du lịch của hai nước sẽ phải đối mặt với những thách thức chuyển đổi và cơ cấu hậu COVID-19 như một hệ quả của sự thay đổi lâu dài trên toàn cầu đối với ngành du lịch và lữ hành. Xem kế hoạch thực hiện

phát triển ngành du lịch cho phép